XÁC LẬP DI CHÚC HỢP PHÁP KHI KHÔNG THỂ ĐẾN TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG


Bộ Luật Dân sự (BLDS) 2015 quy định rất nhiều hình thức lập di chúc, mỗi hình thức đều có quy trình thực hiện khác nhau. Để di chúc có giá trị pháp lý, người lập không chỉ cần tuân thủ quy định về hình thức, quy trình lập di chúc mà còn phải tuân thủ thêm các điều kiện về nội dung di chúc, ý chí và tinh thần của người lập.

Các hình thức lập di chúc hợp pháp theo Điều 628 và 629 BLDS 2015:

– Theo Điều 628 BLDS 2015, Di chúc bằng văn bản, gồm:

  • Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng.
  • Di chúc bằng văn bản có người làm chứng.
  • Di chúc bằng văn bản có công chứng.
  • Di chúc bằng văn bản có chứng thực.

– Ngoài ra, trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng theo Điều 629 BLDS 2015.

Về giá trị pháp lý. Ngay từ hình thức lập và thực tiễn, có thể thấy di chúc lập bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực mang đến giá trị pháp lý cao nhất, bởi vì:

– Thứ nhất, có công chứng viên hoặc tổ chức – cá nhân thực hiện chứng thực nội dung di chúc, chứng thực chữ ký của người lập di chúc. Điều này giúp xác định tính “có thật” của di chúc, hạn chế tối đa tranh chấp liên quan đến di chúc giả mạo, giả chữ ký,…

– Thứ hai, công chứng viên hoặc người chứng thực quan sát được người lập di chúc có minh mẫn và tỉnh táo vào thời điểm lập di chúc hay không, hạn chế tối đa tranh chấp liên quan đến việc người lập di chúc có minh mẫn, tỉnh táo vào thời điểm lập di chúc.

– Thứ ba, công chứng viên và người có thẩm quyền chứng thực là những người am hiểu pháp luật, có thể giải thích cặn kẽ quyền và nghĩa vụ của người lập di chúc, giúp nội dung di chúc được rõ ràng, rành mạch, không có nội dung trái pháp luật.

Để di chúc bằng văn bản có người làm chứng có hiệu lực pháp lý, cần tuân theo các điều kiện theo Điều 634 BLDS 2015:

– Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng.

– Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.

– Hai người làm chứng không được là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc; người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc; người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

– Việc lập di chúc bằng văn bản có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 631 và Điều 632 của Bộ luật này.

Để di chúc bằng văn bản không có người làm chứng có hiệu lực pháp lý, cần tuân theo các điều kiện theo Điều 633 BLDS 2015:

– Người lập di chúc phải tự viết và ký vào bản di chúc.

– Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 631 của Bộ luật này

Để di chúc bằng miệng có hiệu lực pháp lý, cần tuân theo các điều kiện sau:

– Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng. (theo khoản 5, Điều 630 BLDS 2015)

– Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ. (theo khoản 2, Điều 629 BLDS 2015)

Việc lập di chúc khi không thể đến tổ chức hành nghề công chứng hoàn toàn khả thi nếu người dân nắm vững các quy định về người làm chứng và hình thức di chúc. Tuân thủ chặt chẽ các điều kiện pháp lý này không chỉ giúp ý nguyện của người quá cố được thực hiện trọn vẹn mà còn là giải pháp tối ưu để ngăn ngừa những tranh chấp gia đình không đáng có sau này.

___________________________________

© Bài viết thuộc bản quyền Hệ thống luật Việt Nam

Tác giả: Lê Bùi Diễm Quỳnh

Tham vấn bởi LS. Lâm Hoàng Quân

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *