[Hethongluat.VN]Khởi tố Giám đốc Công ty HJC về tội trốn thuế, phân tích vi phạm và hình phạt có thể áp dụng.


Khởi tố Giám đốc Công ty HJC về tội trốn thuế, phân tích vi phạm và hình phạt có thể áp dụng.

Ngày 3/3, Công an tỉnh Quảng Ninh thông tin Cơ quan Cảnh sát điều tra đã khởi tố ông Lưu Phúc Bình (Giám đốc Công ty TNHH Vàng bạc đá quý Hạ Long – HJC), cùng bà Dương Thị Lan Dung và nhân viên bán hàng Nguyễn Thị Thúy về hành vi trốn thuế. Theo dữ liệu điều tra ban đầu, doanh nghiệp này có quy mô kinh doanh lớn với doanh thu thực tế mỗi năm ước tính từ 300 – 500 tỷ đồng.

Tuy nhiên, trong giai đoạn từ năm 2022 đến tháng 10/2025, doanh nghiệp chỉ kê khai doanh thu hơn 13,9 tỷ đồng và nộp thuế giá trị gia tăng hơn 179 triệu đồng. Trong khi đó, tổng số tiền giao dịch bán vàng nhận qua các tài khoản cá nhân liên quan lên tới hơn 1.300 tỷ đồng. Cơ quan chức năng bước đầu xác định số tiền thuế bị trốn khoảng 4,2 tỷ đồng.

Từ sự việc trên, để đánh giá trách nhiệm hình sự của các cá nhân liên quan, cần làm rõ bản chất pháp lý của hành vi trốn thuế cũng như các yếu tố cấu thành của tội phạm này theo quy định của pháp luật hình sự.

Hành vi nêu trên có dấu hiệu của tội trốn thuế được quy định tại Điều 200 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), sau đây xin gọi tắt là “BLHS”. Theo quy định của pháp luật, trốn thuế là hành vi của cá nhân hoặc tổ chức sử dụng các phương thức trái pháp luật nhằm không thực hiện hoặc làm giảm nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà nước. Những hành vi này thường bao gồm việc không kê khai doanh thu, sử dụng chứng từ không hợp pháp, không xuất hóa đơn, hoặc che giấu các khoản thu nhập chịu thuế.

Để xác định hành vi có cấu thành tội trốn thuế hay không, cần xem xét đầy đủ bốn yếu tố cấu thành tội phạm sau đây:

Chủ thể của tội trốn thuế là cá nhân hoặc pháp nhân thương mại có nghĩa vụ kê khai và nộp thuế theo quy định của pháp luật. Trong vụ việc này, ông Lưu Phúc Bình với tư cách là giám đốc doanh nghiệp là người quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh của công ty, đồng thời có trách nhiệm tổ chức việc kê khai và thực hiện nghĩa vụ thuế. Bên cạnh đó, bà Dương Thị Lan Dung và nhân viên Nguyễn Thị Thúy được xác định là những người có tham gia vào quá trình thực hiện các giao dịch và phương thức che giấu doanh thu. Các cá nhân này đều có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Về khách thể “Tội trốn thuế” xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực thuế, cụ thể là quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý, thu và nộp thuế. Việc doanh nghiệp che giấu doanh thu và không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế không chỉ gây thất thu ngân sách nhà nước mà còn làm ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp trong cùng lĩnh vực kinh doanh.

Mặt khách quan của tội trốn thuế thể hiện ở hành vi sử dụng các thủ đoạn trái pháp luật nhằm che giấu nghĩa vụ thuế. Theo thông tin từ cơ quan điều tra, các cá nhân liên quan đã thực hiện nhiều phương thức nhằm che giấu doanh thu như không xuất hóa đơn khi bán vàng, hướng dẫn khách hàng chuyển tiền vào tài khoản cá nhân thay vì tài khoản của doanh nghiệp, đồng thời không ghi nhận các khoản thu này vào hệ thống sổ sách kế toán. Tổng số tiền giao dịch được cho là đã che giấu lên tới hơn 1.300 tỷ đồng, dẫn đến việc không kê khai và nộp thuế theo quy định. Cơ quan chức năng bước đầu xác định số tiền thuế bị trốn khoảng 4,2 tỷ đồng.

Về mặt chủ quan, hành vi trốn thuế được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Những người liên quan nhận thức rõ nghĩa vụ phải kê khai và nộp thuế theo quy định của pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện các thủ đoạn nhằm che giấu doanh thu để làm giảm số tiền thuế phải nộp. Mục đích của hành vi này là nhằm thu lợi bất chính cho cá nhân hoặc doanh nghiệp.

Căn cứ vào số tiền trốn thuế ban đầu được xác định khoảng 4,2 tỷ đồng, hành vi này có dấu hiệu vi phạm khoản 3 Điều 200 BLHS, theo đó: “Phạm tội trốn thuế với số tiền từ 1.000.000.000 đồng trở lên thì bị phạt tiền từ 1.500.000.000 đồng đến 4.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”

Ngoài ra, nếu cơ quan điều tra xác định hành vi được thực hiện có sự cấu kết giữa nhiều người trong doanh nghiệp thì còn có thể xem xét tình tiết phạm tội có tổ chức theo điểm a khoản 2 Điều 200, với khung hình phạt: “Phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm.”

Trong thực tiễn xét xử, trước tiên cơ quan tiến hành tố tụng sẽ áp dụng khung hình phạt trung bình tuy nhiên việc xác định khung hình phạt sẽ căn cứ vào các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ theo điều 50, 51 BLHS. Hiện nay, việc áp dụng các quy định liên quan đến tội trốn thuế chủ yếu được hướng dẫn thông qua các văn bản của cơ quan tư pháp và thực tiễn xét xử. Trong nhiều vụ án tương tự, cơ quan tiến hành tố tụng thường căn cứ vào các tài liệu kế toán, giao dịch ngân hàng và dữ liệu doanh thu thực tế để xác định số tiền thuế bị trốn và trách nhiệm của từng cá nhân tham gia.

Từ các phân tích trên có thể thấy, hành vi của các cá nhân tại Công ty Vàng bạc Đá quý Hạ Long có dấu hiệu thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành của tội trốn thuế theo quy định của BLHS. Với số tiền thuế bị trốn được xác định bước đầu khoảng 4,2 tỷ đồng, vụ việc có thể thuộc trường hợp phạm tội ở khung hình phạt nghiêm trọng theo khoản 3 Điều 200 BLHS.

Tuy nhiên, mức hình phạt cụ thể đối với từng cá nhân còn phụ thuộc vào kết quả điều tra, mức độ tham gia của mỗi người, cũng như các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Chuyên viên pháp lý Phan Mạnh Cường

Tham vấn bởi Luật sư Lâm Hoàng Quân

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *